Viết văn khoa học như nấu canh chua: nguyên tắc IDEA

Có lẽ vài bạn sẽ nhăn mặt không đồng ý với cách ví von giữa nấu canh chua và khoa học, nhưng tôi thì thấy bản chất của hai việc này rất giống nhau. Nấu canh là cả một nghệ thuật, và viết văn khoa học cũng thế. Tiếp theo cái note trước, trong cái note này tôi sẽ mách cho các bạn vài mẹo viết phần dẫn nhập sao cho thuyết phục.

Độ 10 năm trước, trong một hội thảo & workshop do Bộ GDĐT tổ chức ngoài Hà Nội, và tôi có nói rằng viết văn khoa học như là nấu canh. Bà giáo sư người Úc, chắc ai đó dịch cho bà nghe, đến chỗ tôi và nói là bà rất thích cái ý ngộ nghĩnh đó. Tôi thì thấy chẳng có gì là lạ lùng cả, vì nếu quan sát kĩ các công đoạn trong nấu canh chua, chúng ta sẽ thấy qui trình đó rất giống với viết văn nói chung. Trong phần dưới đây tôi sẽ giải thích tại sao hai việc làm này giống nhau, và chúng ta có thể học gì từ người thợ nấu canh chua.
1. Viết văn như nấu canh chua
Nấu canh chua là một khoa học và cũng là một nghệ thuật. Để nấu một nồi canh chua người thợ nấu phải có một kế hoạch hoàn chỉnh, với những công đoạn theo trình tự có sẵn, gần như lưu truyền từ đời này sang đời khác. Khởi đầu là phải xác định nồi canh cho mấy người ăn, họ là ai, hay nói theo ngôn ngữ đời nay là nghĩ đến “đối tượng”. Sau đối tượng là nguyên liệu. Người thợ nấu phải chọn nguyên liệu có phẩm chất tốt, từ con cá, cà chua, bạc hà, giá, khóm, đến rau thơm. Người nấu còn phải nghĩ đến loại nguyên liệu gây chua (me hay gì đó), nước soup loại gì để “đi chung” với những nguyên liệu đó. Sau cùng là khi dọn ra, tô canh chua phải có thêm chút mỡ tỏi chiên để cho có cái vị. Nhất định phải có vài miếng ớt màu đỏ. Trong quá trình chế biến, người thợ phải liên tục nêm nếm, thêm cái này, bớt cái kia, cho đến khi nồi canh hoàn hảo. Kết quả là một tô canh chua, đủ màu sắc (xanh, đỏ, trắng, vàng), hoà quyện giữa âm và dương, cộng thêm nước mắm trong nữa, thì thực khách có một món ăn không chỉ độc đáo mà còn lành mạnh.
Viết văn khoa học cũng giống như nấu canh. Trước hết, người viết cần phải xác định mình viết cho ai đọc, người trong ngành hay người ngoài ngành, viết cho tập san trong “bộ lạc” hay tập san “biển lớn”. Xác định đối tượng giúp người viết chọn cách hành văn và chọn thuật ngữ sao cho phù hợp. Chẳng hạn như viết cho người trong ngành, cùng “bộ lạc” (ví dụ như viết cho người trong ngành tim mạch), thì có lẽ người viết không cần phải giải thích những khái niệm cơ bản, không cần phải nói tầm quan trọng của bệnh lí ra sao, vì nói như thế rất dễ bị hiểu lầm là lên lớp. Nhưng nếu viết cho người ngoài ngành, thì có thể cần cung cấp một định nghĩa ngắn về bệnh lí, và nói tầm quan trọng của bệnh ra sao. Do đó, xác định độc giả cũng giống như xác định thực khách của nồi canh chua.
2. Lên kịch bản
Sau khi xác định đối tượng là dàn bài. Đây là bước quan trọng, vì bước này quyết định cái khung của bài báo. Dàn bài ở đây hiểu theo nghĩa là lên kịch bản cho bài báo hay một phần của bài báo. Điều rất quan trọng là dàn bài phải nhắm đến mục tiêu của nghiên cứu. Chẳng hạn như mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hồ sơ gen (genetic profiling) để tiên lượng loãng xương, tác giả phải nghĩ cách lên kịch bản trong phần dẫn nhập sao cho cuối cùng độc giả thấy mục tiêu xây dựng hồ sơ gen là cần thiết. Để chỉ ra mục tiêu là cần thiết, tác giả phải nói cho độc giả biết tầm quan trọng của vấn đề, những nghiên cứu trong quá khứ về vấn đề ra sao, khoảng trống tri thức là gì, và sau cùng là mục tiêu. Có lẽ tác giả nghĩ đến một kịch bản như sau:
·       Loãng xương là bệnh quan trọng vì nhiều người mắc;

·       Nhưng vì bệnh lí diễn ra một cách âm thầm, nên cần phải nhận dạng người có nguy cơ cao (trước khi quá muộn); 

·       Mà nguy cơ của bệnh thì chịu nhiều tác động, từ yếu tố lâm sàng đến di truyền; 

·       Đã có nhiều nghiên cứu về di truyền và đã phát hiện nhiều gen, nhưng ảnh hưởng của mỗi gen còn thấp. Có cách nào hay hơn để sử dụng thông tin gen cho tiên lượng bệnh? (Ở đây tác giả phải đang nghĩ đến khoảng trống tri thức). 

·       Ah, có vài cách sử dụng gen, và một trong những cách đó là xây dựng hồ sơ gen, tổng hợp thông tin từ nhiều gen và tạo ra “chữ kí gen” cho mỗi cá nhân. Giả thuyết là chữ kí này sẽ giúp tiên lượng bệnh tốt hơn. Sau đó là phát biểu mục tiêu của nghiên cứu.
Chú ý là các ý tưởng trên được dàn xếp theo logic đường thẳng, từ A –> B, B –>, v.v. Như vậy, sau khi lên kịch bản như thế (có lẽ trên bàn cà phê!) phần dẫn nhập có lẽ sẽ có 5 đoạn văn, vì mỗi đoạn văn chỉ nói lên 1 ý tưởng.
3. Tìm chất liệu và viết
Bước kế tiếp là tìm chất liệu (tức là data — dữ liệu) cho mỗi ý hay mỗi đoạn văn. Chẳng hạn như trong đoạn văn đầu về tầm quan trọng của bệnh, tác giả cần phải nghĩ mình viết gì để nói lên cái ý đó. Người có kinh nghiệm có thể sẽ viết về qui mô của bệnh trong cộng đồng; về ảnh hưởng của bệnh đến tử vong hay các biến chứng; về chi phí điều trị và do đó gánh nặng kinh tế cho cá nhân; về chất lượng cuộc sống. Sau khi đã biết mình viết gì, tác giả phải tìm trong y văn các dữ liệu cần thiết để nói lên các điểm vừa kể. Giả dụ như sau khi đã có dữ liệu, tác giả phải nghĩ đến cách viết. Cách viết một đoạn văn như chúng ta đã bàn là gồm 3 phần: câu văn chủ đề, các câu văn yểm trợ, và câu văn nhấn mạnh. Câu văn chủ đề có lẽ là:
“Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death.”
Câu văn này mở màn cho các câu văn sau. Vì câu mở đầu nói đến prevalence và tử vong, nên các câu sau phải “yểm trợ” cho hai khía cạnh đó. Có lẽ các câu tiếp theo là:
Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold.”
Chú ý những (X) là tài liệu tham khảo. Nếu có thêm dữ liệu thì viết nữa để cung cấp cho độc giả những thông tin liên quan. Nếu không thì có thể kết thúc đoạn văn với câu kết. Thật ra, đây là câu khó viết, vì viết không khéo sẽ lặp lại ý chính của câu văn chủ đề. Suy nghĩ xem phải nhấn mạnh điều gì … Có lẽ nên nhấn mạnh đến tương lai khi tình trạng lão hoá gia tăng thì qui mô và tác động của bệnh cũng tăng. Quyết định như thế, tác giả có thể viết:
Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future.”

Tổng kết lại, tác giả có một đoạn văn mở đầu

“Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold. Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future.”
4. “Nêm nếm” (chỉnh sửa)
Cứ mỗi lần viết xong một đoạn văn, tác giả cần phải đọc lại và đọc lại và đọc lại. Qui trình này cũng giống như người thợ nấu sau khi đã cho nguyên liệu vào nồi canh, họ phải liên tục nêm nếm, thêm đường, bớt muối, thêm nước, v.v. cho đến khi nồi canh đậm đà. Viết văn khoa học cũng y như thế, sau khi viết xong một đoạn văn, tác giả cần phải đọc lại nhiều lần và chỉnh sửa. Có 5 câu hỏi tác giả cần phải tự đặt ra là:
·       các câu văn đã nói lên cái ý chưa? 
·       có câu hay chữ nào thừa? 
·       có chữ nào khó hiểu không? 
·       có câu nào cấu trúc sai văn phạm không? 
·       cái tone của các câu văn có ổn chưa?
Chẳng hạn như câu “Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death” có dài quá chăng? Có nên tách nó thành hai câu riêng? Chữ “recognized” có ổn chưa? Ai recognized? Có lẽ nên dùng chữ khác, active hơn. Chúng ta thử làm tác giả tách ra hai câu riêng:
“Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality.”
Có lẽ hai câu này rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn. Chữ “clinical consequence” mở cửa cho tác giả viết thêm về tác động lâm sàng của bệnh trong các câu văn sau. Vậy thì đoạn văn cần phải viết lại như sau:
“Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). Moreover, osteoporotic patients are associated with comorbidities such as osteoarthritis, sarcopenia, and diabetes. Patients with osteoporosis have a higher risk of sustaining a fracture. More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold. Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future.”
Có thể đọc lại lần nữa để tìm xem 5 yếu tố trên đã ổn chưa. Chẳng hạn như chữ “For instance” có lẽ thừa, và nên bỏ. Thậm chí những chữ “a large scale study in the United States found that” cũng không cần thiết. Hay như câu “Given that the population aging has taken place in many parts of the world” có thể viết lại cho gọn hơn như “Because the population aging has taken place worldwide” (gọn hơn, vì bỏ được 6 chữ “in many parts of the world”). Câu “the burden and impact of osteoporosis is” sai văn phạm. OK, vậy đoạn văn bây giờ là:
“Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). Moreover, osteoporotic patients are associated with comorbidities such as osteoarthritis, sarcopenia, and diabetes. Patients with osteoporosis have a higher risk of sustaining a fracture. More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). The risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold (X). Because the population aging has taken place worldwide, it is expected that the burden and impact of osteoporosis are likely to increase in the future.”
Nhưng câu cuối có cái tone không mấy đẹp. Có thể viết lại như sau: “Because the population aging has taken place worldwide, it is expected that osteoporisis is likely to impose a greater burden and impact on the society.”
Có lẽ đoạn văn như thế là tạm ổn. Cứ để đó, tác giả nên viết tiếp đoạn thứ hai, và cái chu kì “nêm nếm” lại bắt đầu cho đến khi đoạn văn hoàn tất. Sau khi viết xong đoạn văn số 5, cũng cần phải đọc lại toàn bộ phần dẫn nhập để xem các đoạn văn đã ăn khớp với nhau và nói lên một “câu chuyện”. (Thật ra, đoạn văn trên vẫn cón 1 chỗ chưa hay, và sai văn phạm 1 chỗ, nhưng tôi để cho các bạn phát hiện).
5. Nguyên tắc IDEA
Đọc đến đây các bạn thấy viết văn đúng như là một cách nấu nồi canh chua. Để nấu nồi canh chua, người thợ nấu dĩ nhiên phải có ý tưởng, chất liệu, kĩ năng, nhưng cũng phải có cái nghệ thuật. Nghệ thuật thử nếm, rất khó cân đo đong đếm, vì nó mang tính chủ quan. Viết văn khoa học cũng vậy, cũng có tính chủ quan (văn là người), nhưng nói chung viết văn đòi hỏi người viết phải:
(a) có ý tưởng (idea), biết mình viết cái gì, đạt mục tiêu gì; 

(b) có sẵn dữ liệu (data), tức là phải đọc các nghiên cứu trước, đọc rất nhiều; 

(c) có kĩ năng tiếng Anh, tức là cách chọn chữ, cấu trúc câu văn; và 

(d) phải có một chút nghệ thuật (art), tức phải tập khiếu thẩm mĩ trong văn chương.
Tôi đặt tên cho nguyên tắc trên là IDEA: Idea + Data + English +Art. Trong 4 nguyên tắc trên, tôi nghĩ đọc là quan trọng nhất. Đọc trước hết là để thu thập dữ liệu, nhưng sau đó là học cách người trước mình viết và diễn giải ra sao. Không có gì hiệu quả hơn là học từ thực tế. Có thể nói không ngoa rằng sự nghiệp học tập của một sinh viên hay nghiên cứu sinh là … đọc. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà ngày xưa người ta gọi đi học đại học là “read” (chẳng hạn như câu “She read biology at the University of Cambridge“).
Viết văn là một nghệ thuật, nhưng viết văn khoa học lại là một khoa học. Bởi vậy một học giả lừng danh từng nói rằng viết là suy nghĩ trên trang giấy — writing is thinking on paper (còn ngày nay thì viết có nghĩa là suy nghĩ trên … màn hình). Suy nghĩ mù mờ, hời hợt, thì văn cũng như thế; suy nghĩ rõ ràng và logic sẽ phản ảnh qua cấu trúc một bài báo.