Thân phận của những "rùa biển" Việt Nam

nước ta đang xy ra mt tình trng tr trêu: Các đi hc và trung tâm nghiên cu khoa hc lúc nào cũng nói rng h cn nhân tài, nhưng nhân tài t nước ngoài v nước (gi là “rùa bin”) li không được trng dng. Theo tôi, Vit Nam cn phi to ra mt môi trường hc thut t do và thân thin thì mi có kh năng thu hút nhân tài t nước ngoài. 

Có lẽ trong lịch sử nước ta, chưa bao giờ số du học sinh đông đảo như hiện nay. Trước đây, số du học sinh hàng năm chỉ dao động trong khoảng vài ngàn người mỗi năm. Nhưng trong thời gian gần đây,  thì con số du học sinh tăng rất nhanh.  Theo số liệu của Bộ GDĐT, chỉ trong năm 2013, có 125000 học sinh Việt Nam ra nước ngoài học tập. Gần 90% trong số này là đi du học tự túc. Vẫn theo thống kê này, Mĩ và Úc là hai nơi được du học sinh ưa chuộng, với gần 40% du học sinh theo học tại các đại học và trung học của hai nước này. Tuy chưa ai biết chất lượng của du học sinh trong thời kì này ra sao, nhưng nhìn chung đó là một tín hiệu tích cực cho đất nước đang trong giai đoạn phát triển.
Bao nhiêu du học sinh về nước sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài? Chưa có thống kê chính xác cho các du học sinh Việt Nam, nhưng nghiên cứu ở Mĩ cho thấy chỉ có 45% những du học sinh Tàu đang theo học trong các đại học danh tiếng của Mĩ muốn về nước. Phần lớn muốn nấn ná ở lại để học hỏi thêm kinh nghiệm. Nói là “học hỏi thêm” nhưng trong thực tế thì họ đều tìm cách xin ở lại như là thường trú nhân, và lập gia đình, tiến tới định cư ở Mĩ.  Tình hình ở Úc cũng giống như Mĩ, tức là phần lớn du học sinh Tàu muốn chọn lại và định cư ở Úc, chứ không muốn hồi hương. Tuy không có con số cụ thể, nhưng qua giao tiếp và kinh nghiệm cá nhân, tôi đoán rằng phần đông du học sinh Việt Nam cũng chọn ở lại nước ngoài thay vì về nước.
Tại sao du học sinh muốn ở lại nước ngoài mà không về Việt Nam làm việc? Đây là một câu hỏi đòi hỏi nhiều nghiên cứu và điều tra xã hội mới có câu trả lời toàn diện. Nhưng qua thảo luận với với các du học sinh đã về nước công tác và các bạn ở ngoài này, tôi nhận ra một số lí do liên quan đến môi trường học thuật, văn hoá quan hệ, và hệ thống hành chính. Đây chính là những rào cản làm chùn bước du học sinh quyết định về nước làm việc.
Một trong những quan ngại lớn nhất của du học sinh là khoảng cách học thuật giữa Việt Nam và các nước phương Tây mà họ đã và đang theo học. Là một nước đang phát triển, Việt Nam chưa có những cơ sở vật chất dồi dào, chưa sở hữu những phương tiện thí nghiệm tiên tiến như ở các nước có nền khoa học lâu đời ở phương Tây. Để xây dựng được một cơ sở vật chất như thế cần một thời gian khá dài, chứ không thể một sớm chiều được. Trong một số ngành khoa học thực nghiệm (ví dụ như sinh học phân tử và công nghệ sinh học), đối với các du học sinh mới tốt nghiệp, họ cần phải trao dồi nghề nghiệp và học thêm kĩ năng khoa học, và Việt Nam không phải là môi trường lí tưởng cho họ. Do đó, nấn ná ở thêm vài năm ở nước ngoài để tìm cơ hội nghiên cứu hậu tiến sĩ hay học thêm là hoàn toàn có thể hiểu được.
Môi trường học thuật và văn hoá khoa học ở Việt Nam không phải là lí tưởng cho các du học sinh ở nước ngoài mới về. Ở nước ngoài, các du học sinh đã quá quen với văn hoá tôn trọng chứng cứ, dân chủ trong khoa học, và tư duy phê phán. Những đặc tính văn hoá khoa học này có khi không phù hợp với môi trường trong nước, nơi mà sự cả nể và thứ bậc khoa bảng được xem là chuẩn mực trong ứng xử hàng ngày. Tư duy phê phán và chú ý đến chi tiết của phương Tây khi về đến Việt Nam có thì bị xem là “vạch lá tìm sâu” với một hàm ý xấu. Do đó, không ngạc nhiên, khi một số du học sinh than phiền là họ bị loại ra khỏi các hội đồng khoa học, thậm chí bị cô lập vì có những ý kiến phản biện thẳng thắn, hoặc những ý kiến không phù hợp với suy nghĩ của các đồng nghiệp trong nước.
Một trong những yếu tố cũng gây quan ngại trong giới du học sinh cấp tiến sĩ là vấn đề tài trợ cho nghiên cứu. Bất cứ một tiến sĩ thật nào cũng đam mê nghiên cứu khoa học, và nghiên cứu thực nghiệm cần phải có tiền. Nhưng qui trình xét duyệt đề tài nghiên cứu và phân bố ngân sách nghiên cứu ở Việt Nam rất khác so với ở các nước tiên tiến.  Những câu chuyện tiêu cực về “lại quả”, “kickback”, những câu chuyện vô lí, bất cập trong việc xét duyệt đề tài lưu truyền trong giới khoa học chỉ làm cho các nghiên cứu sinh nước ngoài thêm nản chí. May mắn thay mấy năm gần đây với sự ra đời của Quĩ Nafosted đã phần nào đó giúp lấy lại niềm tin vào quản lí khoa học ở giới nghiên cứu sinh. Nhưng ở các tỉnh và thành phố thì qui trình xét duyệt đề tài và cung cấp kinh phí cho nghiên cứu vẫn còn rất nhiều bất cập, vì có những qui định được đặt ra dựa trên giả định là không tin tưởng vào nhà khoa học và “hành là chính”. Đối với những nghiên cứu sinh mới tốt nghiệp và về nước rất khó “thích ứng” với một môi trường khoa học lạ như thế.
Một khó khăn khác khi các du học sinh trở về nước làm việc là sự đố kị và ganh tị của đồng nghiệp trong nước. Trong cái nhìn của một số người trong nước, nếu du học sinh giỏi thì không về nước; suy ra, người về nước chắc là thuộc loại học hành dở. Một số người khác thì có cái nhìn hẹp hòi hơn, và muốn gây khó khăn cho “ma mới”, bằng cách tạo khó khăn cho các du học sinh mới về. Một số khác trong hệ thống cơ quan nhà nước, có lẽ là số lớn, tự biết rằng họ bất tài, nhưng đồng thời không muốn để du học sinh biết sự bất tài của mình, nên tìm cách dèm pha và bất hợp tác. Tôi từng biết vài tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài, có khả năng nghiên cứu tốt với thành tích công bố rất tốt, nhưng khi về nước nhận việc ở đại học thì bị sắp xếp làm việc không đúng với chuyên ngành. Có người thậm chí bị đày đoạ với công việc photocopy, như là một cách hạ nhục! Những trường hợp như thế không phải là hiếm, và câu chuyện của họ là rào cản cho các du học sinh có năng lực về nước.
Các du học sinh Việt Nam thường than phiền cái mà tôi tạm gọi là “văn hoá quan hệ”. Ở Việt Nam, dân gian có câu “Th nht hu du, th nhì quan h, th ba tin t, th tư trí tu” để chỉ những tiêu chí ngầm trong việc bổ nhiệm nhân sự. Trong 4 tiêu chí ngầm đó, 2 tiêu chí đầu là quan hệ, còn trí tuệ hay tài năng được đánh giá thấp nhất. Trong một hệ thống như thế thì du học sinh không thuộc diện hậu duệ, chẳng có quan hệ, và cũng chẳng có tiền, thì cơ hội được đóng góp của họ phải nói là rất thấp. Đối với các du học sinh diện “hạng bét” trong thang tiêu chí ngầm này thì lựa chọn ở lại nước ngoài, nơi họ được trọng dụng, là điều hiển nhiên.
Nói chuyện nhiều với các du học sinh, tôi phát hiện rằng họ sợ nhất là những qui định hành chính (mà họ gọi đùa là “hành là chính”) và những qui định thiếu minh bạch. Du học sinh về nước có khi gặp những thủ tục và qui định cười ra nước mắt. Chẳng hạn như một du học sinh học trung học, đại học, sau đại học ở nước ngoài, khi về nước tìm nơi công tác, em ấy không được nhận vì hồ sơ không hợp lệ do không có bằng tốt nghiệp trung học ở Việt Nam! Dĩ nhiên, cũng có nhiều trường hợp do đố kị và ganh tị, người ta tự đặt ra những qui định chỉ để loại bỏ những du học sinh từ nước ngoài.
Đối với các du học sinh đã có gia đình, quyết định ở nước ngoài có khi chẳng liên quan gì đến học thuật hay khoa học, mà vì lí do gia đình. Họ lo cho tương lai con em họ, muốn con em họ học hành trong một môi trường tử tế hôn và ít áp lực hơn bên Việt Nam. Họ đã thấy tình trạng “tị nạn giáo dục” ở Việt Nam, đã chứng kiến phần đông những quan chức và người giàu có đều gửi con em ra nước ngoài học. Đó là một cách “bỏ phiếu” cho nền giáo dục nước nhà. Do đó, việc các du học sinh có gia đình đi học ở nước ngoài và chọn ở lại vì tương lai con cái là điều cũng có thể hiểu được.
Ở bên Tàu, người ta gọi những du học sinh đi học nước ngoài và quay về nước là “hải qui”, hay dịch sang tiếng Việt là “rùa biển”. Số phận của những rùa biển Việt Nam không mấy sáng sủa. Một số về thì không được bố trí công việc thích hợp, hoặc bị cô lập, nên sống lây lất qua ngày. Nhiều người học xong và quay về, sau khi bị trù dập và thất nghiệp, đành phải tìm đường rời khỏi Việt Nam, và trở thành nạn nhân bị kiện đòi bồi thường tiền. Tình trạng này rất giống như những hải qui bên Tàu. Vấn đề không hẳn là tại các “rùa biển”, mà do khoảng cách về khoa học và do cơ chế tuyển dụng nhân tài của Việt Nam có vấn đề.
Thật ra, nhìn chung và nhìn bức tranh lớn, thì dù du học sinh ở nước ngoài vài năm hay quay về thì Việt Nam vẫn không mất gì. Những người ở ngoài trước sau gì thì cũng quay về giúp Việt Nam trong việc chuyển giao công nghệ và hợp tác khoa học. Những người đã về, cho dù rời trường vì lí do nào, thì vẫn làm việc ở trong nước, chứ không hề mất đi. Do đó, việc kiện du học sinh là một tiền lệ không đẹp và có thể nói là nhỏ mọn.  
Điểm qua những lí do trên, nếu Việt Nam thật sự cần thu hút nhân tài, thì phải cải cách hệ thống học thuật và khoa học, tinh giản hệ thống quản lí và hành chính. Phải giảm quyền lực chính trị của những người có chức năng tuyển dụng nhân sự, và thay vào đó là nên giao quyền tuyển dụng cho giới chuyên môn. Chìa khoá để thu hút nhân tài từ nước ngoài về nước không phải là trả lương cao, mà là tạo ra một môi trường học thuật thân thiện, tự do và dân chủ.