Truy tầm ung thư vú: độ chính xác bao nhiêu?

https://i0.wp.com/images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2009/06/13/ung-thu-vu2.jpg?resize=100%2C100Ung thư vú có lẽ một bệnh ung thư phổ biến nhất trong các bệnh ung thư. Theo thống kê, cứ 100,000 phụ nữ có 27 người mắc bệnh ung thư vú mỗi năm. Con số này – có lẽ chưa đầy đủ — tuy còn thấp hơn so với các nước trong vùng Đông Nam Á, nhưng xu hướng gia tăng trong vài năm gần đây. Mỗi năm, nước ta có khoảng 12 ngàn phụ nữ mắc bệnh ung thư vú, và đó là một qui mô lớn, rất đáng quan tâm.

Phần lớn những ca bệnh ung thư vú ở Việt Nam được phát hiện khá trễ. Cứ 2 trong số 3 bệnh nhân phát hiện ung thư vào giai đoạn III và IV. Do đó, việc điều trị và hiệu quả điều trị ở những bệnh nhân này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các chuyên gia đều đồng ý rằng nếu ung thư phát hiện sớm, ở giai đoạn khả quan, và có phương tiện điều trị, thì cơ hội cứu sống bệnh nhân sẽ được nâng cao. Vấn đề là làm cách nào để có thể phát hiện bệnh sớm hơn.

Hiện nay, có nhiều cách để khám nghiệm truy tầm ung thư vú, nhưng tựu trung lại, có thể nói là 3 cách: nhũ ảnh (mammography), bác sĩ khám, và tự khám. Các chương trình truy tầm ung thư vú thường kêu gọi phụ nữ nên đi khám bằng nhũ ảnh ít nhất là một lần, và thường xuyên tự khám hay đến bác sĩ để được khám. Phương pháp phát hiện bệnh ung thư vú thông dụng nhất là nhũ ảnh. Tuy nhiên, phương pháp nhũ ảnh không có độ chính xác tuyệt đối. Khoảng 6 đến 7% người có xét nghiệm dương tính nhưng thật ra họ không mắc bệnh ung thư vú. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu rất qui mô ở các nước phương Tây cho thấy truy tầm ung thư bằng nhũ ảnh có thể không có hiệu quả giảm tử vong. Vấn đề, do đó, đặt ra là ai cần được truy tầm ung thư vú bằng nhũ ảnh để đem lại lợi ích tốt nhất cho bệnh nhân.

Một cách để nâng cao độ chính xác của nhũ ảnh là tìm “đúng” đối tượng dựa vào yếu tố nguy cơ. Ung thư vú có nhiều yếu tố nguy cơ, kể cả gien. Nhưng một trong những yếu tố nguy cơ mang tính tiên lượng cao là tiền sử cá nhân. Nếu một phụ nữ đã mắc bệnh ung thư vú, nguy cơ mắc bệnh lần thứ hai có thể tăng từ 3 đến 4 lần. Do đó, hều hết các chuyên gia đều đồng ý rằng những bệnh nhân đã mắc bệnh ung thư vú nên tái khám bằng nhũ ảnh để phát hiện bệnh sớm hơn và hi vọng sẽ cứu sống bệnh nhân. Đồng ý là một chuyện, còn bằng chứng có phù hợp với quan điểm đó hay không là một chuyện khác. Rất nhiều nghiên cứu trong quá khứ cho ra nhiều kết quả có khi thiếu nhất quán và rất khó diễn giải, hoặc gây ra nhiều tranh cãi. Cho đến nay, ở một số đối tượng, các chuyên gia vẫn chưa nhất trí phương cách truy tìm tối ưu nhất.

Một nghiên cứu mới công bố trong tuần qua (1) thẩm định độ chính xác của nhũ ảnh đối với những bệnh nhân đã có tiền căn ung thư vú. Trong nghiên cứu rất qui mô này, các bác sĩ phân tích dữ liệu của 19078 phụ nữ với tiền sử ung thư vú ở giai đoạn I và II, và 58870 phụ nữ cùng tuổi chưa từng bị ung thư vú. Trong nhóm có tiền sử ung thư vú, có thêm 655 người (tức khoảng 3,5%) mắc bệnh ung thư vú lần thứ hai trong vòng 1 năm; trong nhóm không có tiền sử ung thư, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú là 0,6%. Nói cách khác, phụ nữ với tiền sử ung thư vú có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú lần thứ hai cao gấp 6 lần so với nhóm không có tiền sử ung thư. Phát hiện này thật ra không mới, bởi y văn đã chỉ ra từ lâu rằng phụ nữ có tiền sử ung thư vú là những người có nguy cơ mắc bệnh lần thứ hai (tái phát). Nhưng câu hỏi kế tiếp là có thể sử dụng tiền sử ung thư để nâng cao độ chính xác của việc truy tìm ung thư hay không? Kết quả nghiên cứu trên làm cho nhiều chuyên gia ngạc nhiên!

35% ca bệnh bị bỏ sót!

Tuy nhiên, một kết quả khá bất ngờ là độ chính xác của nhũ ảnh ở những bệnh nhân có tiền sử ung thư vú. Độ chính xác được đo lường bằng 2 chỉ số: tỉ lệ dương tính thật, và tỉ lệ âm tính thật. Dương tính thật có nghĩa là kết quả nhũ ảnh dương tính và phụ nữ thật sự mắc bệnh ung thư. Âm tính thật là trường hợp phụ nữ có kết quả âm tính và họ không mắc bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật đều thấp hơn ở nhóm bệnh nhân với tiền sử ung thư vú. Chẳng hạn như tỉ lệ dương tính thật ở nhóm bệnh nhân với tiền sử là 65%, so với 76% ở nhóm không có tiền sử ung thư vú. Nói cách khác, có đến 35% phụ nữ với tiền sử ung thư vú có kết quả âm tính nhưng thật sự họ mắc bệnh ung thư (tức nhũ ảnh bỏ sót đến 35% ca bệnh). Ngoài ra, khoảng 2% những phụ nữ với tiền sử ung thư có kết quả dương tính nhưng trong thực tế họ không mắc bệnh ung thư lần 2. Tỉ lệ dương tính giả trong nhóm không có tiền sử ung thư là 1%. Những kết quả trên cho thấy phương pháp nhũ ảnh có độ chính xác thấp hơn trong nhóm có tiền sử ung thư vú, và điều này làm nhiều chuyên gia ngạc nhiên!

Với những bất định như trình bày, có lẽ câu hỏi mà bệnh nhân cần biết là: nếu tôi có kết quả dương tính, xác suất tôi mắc bệnh ung thư vú là bao nhiêu? Dựa vào kết quả nghiên cứu này, câu trả lời là khoảng 30%. Nói cách khác, một kết quả nhũ ảnh dương tính không có nghĩa rằng cá nhân đó thật sự mắc bệnh ung thư vú, nhưng chỉ có nghĩa rằng nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với những người có kết quả âm tính.

Những kết quả trên đây cho chúng ta một bức tranh hai mặt của truy tầm ung thư. Một mặt, phụ nữ với tiền sử ung thư vú có lẽ nên chụp nhũ ảnh hàng năm để phát hiện bệnh sớm hơn. Nhưng mặt khác, kết quả của xét nghiệm bằng nhũ ảnh có độ chính xác không cao, và có thể sẽ dẫn đến nhiều xét nghiệm tốn kém và xâm phạm khác. Kết quả nghiên cứu trên cũng đặt vấn đề tìm những phương pháp mới, chẳng hạn như phân tích các marker, để nâng cao độ chính xác của xét nghiệm ung thư bằng nhũ ảnh.

Truy tầm ung thư vú là một vấn đề có khi gây ra nhiều tranh cãi. Gần đây, với nhiều dữ liệu nghiên cho thấy truy tầm ung thư thường xuyên và đại trà không đem lại lợi ích cho cộng đồng. Quyết định tham gia vào những chương trình tầm soát ung thư vú cuối cùng vẫn là một quyết định cá nhân và phải dựa vào những bằng chứng khoa học thích hợp cho người Việt.

Tham khảo:
(1) Houssami N, et al. Accuracy and outcomes of screening mammography in women with a personal history of early stage breast cancer. JAMA 23/2/2011 (trang 790).